<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
<channel>
<title>Quản lý dữ liệu di sản</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/</link>
<description>some description here</description>
<language>en-us</language>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<item>
<title>Đầu phượng</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/video/476/dau-phuong</link>
<description><![CDATA[ Chất liệu: Đất nung.
Niên đại: Triều Trần – Hồ, thế kỷ 14 - 15.
Mô tả: Trang trí nóc mái kiến trúc, mang đặc trưng nghệ thuật Đại Việt cuối triều Trần. Đầu phượng được thể hiện với chiếc mỏ to, dài, mắt tròn lồi, bờm lượn, hoa văn tinh xảo. Với kích thước lớn của chiếc đầu phượng không chỉ thể hiện quy mô đồ sộ của công trình kiến trúc mà còn phản ánh trình độ của các nghệ nhân, người thợ xây dựng các công trình kiến trúc thời kỳ này. ]]></description>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<enclosure url='http://disanso.vn/vidman/upload/videos/3D.jpg' length='' type='image/jpg' /><guid>http://disanso.vn/vidman/video/476/dau-phuong</guid>
</item>
<item>
<title>Mộc bản số hiệu 10991</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/video/475/moc-ban-so-hieu-10991</link>
<description><![CDATA[ Bản quét 3D mộc bản số hiệu 10991 ]]></description>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<enclosure url='http://disanso.vn/vidman/upload/videos/ustHqlNFB94.jpg' length='' type='image/jpg' /><guid>http://disanso.vn/vidman/video/475/moc-ban-so-hieu-10991</guid>
</item>
<item>
<title>Mộc bản 08429 (một phần)</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/video/474/moc-ban-08429-mot-phan</link>
<description><![CDATA[ Bản quét 3D mộc bản số hiệu 08429 ]]></description>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<enclosure url='http://disanso.vn/vidman/upload/videos/vmCsaKbZoDk.jpg' length='' type='image/jpg' /><guid>http://disanso.vn/vidman/video/474/moc-ban-08429-mot-phan</guid>
</item>
<item>
<title>Mộc bản 08429</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/video/473/moc-ban-08429</link>
<description><![CDATA[ Bản quét 3D mộc bản số hiệu 08429 ]]></description>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<enclosure url='http://disanso.vn/vidman/upload/videos/O5DxHYItI-k.jpg' length='' type='image/jpg' /><guid>http://disanso.vn/vidman/video/473/moc-ban-08429</guid>
</item>
<item>
<title>Mộc bản 25476</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/video/472/moc-ban-25476</link>
<description><![CDATA[ Bản quét 3D của Mộc bản số hiệu 25476 ]]></description>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<enclosure url='http://disanso.vn/vidman/upload/videos/3RGoVnr7dPo.jpg' length='' type='image/jpg' /><guid>http://disanso.vn/vidman/video/472/moc-ban-25476</guid>
</item>
<item>
<title>Đi tìm Quốc hiệu trong Di sản Mộc bản Triều Nguyễn</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/video/471/di-tim-quoc-hieu-trong-di-san-moc-ban-trieu-nguyen</link>
<description><![CDATA[ Giới thiệu chung: Từ khi dựng nước cách đây hơn 4000 năm, nước ta đã trải qua nhiều thăng trầm với những biến động của lịch sử. Minh chứng rõ ràng cho điều đó là trên dưới 10 lần đổi quốc hiệu. Mỗi lần đổi dời có một ý nghĩa khác nhau, nhưng đều đánh một dấu mốc trọng đại trong lịch sử dân tộc. 
Với mỗi quốc gia, quốc hiệu là tên chính thức được dùng trong quan hệ ngoại giao, pháp lý, thương mại, biểu thị tính chính thống của một vương triều hay chính phủ. Bên cạnh đó, quốc hiệu cũng thể hiện quốc thể, chủ quyền lãnh thổ, thể chế chính trị của một dân tộc trên trường quốc tế. Khối Mộc bản Triều Nguyễn còn lại đến ngày nay còn lưu giữ khá đầy đủ những thông tin về quốc hiệu của nước ta từ trước năm 1945.
XÍCH QUỶ
Xích Qủy, tên nước đầu tiên từ truyền thuyết về thủy tổ của dân tộc Việt là Kinh Dương Vương, cho đến nay vẫn còn ít được chú ý. Tuy nhiên, Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư cho thấy, cái tên này đã được đưa vào bộ chính sử xưa nhất của Việt Nam.  
Nhâm Tuất, năm thứ 1. Xưa cháu ba đời của Viêm Ðế họ Thần Nông là Ðế Minh sinh ra Ðế Nghi, sau Ðế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua Kinh Dương Vương. Vua là bậc thánh trí thông minh, Ðế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Ðế Minh mới lập Ðế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. 
Văn Lang: Sau khi Hùng Vương lên ngôi, cái tên Văn Lang mới được coi là quốc hiệu chính thức đầu tiên của nước ta. 
Lãnh thổ Văn Lang phía đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Ðộng Ðình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành. Ngày nay là toàn bộ khu vực đồng bằng sông Hồng và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Vua Hùng đóng đô ở Phong Châu, nay thuộc tỉnh Phú Thọ, chia đất nước làm 15 bộ để cai quản.
Thục An Dương Vương đổi tên nước là Âu Lạc
Trải qua 18 đời Hùng Vương, sau hơn 2600 năm tồn tại, cái tên Văn Lang bắt đầu được thay thế, đánh dấu sự chuyển dời sang một đế vương mới. 
Mộc bản sách Ngự chế Việt sử tổng vịnh tập, quyển 1, mặt khắc 2 lưu lại sự kiện này. 
Sau khi lấy được nước Văn Lang, Thục Vương đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đắp thành ở Việt Thường rộng cả ngàn trượng. Thành ấy, được xây đắp theo kiểu vòng tròn như hình con ốc, cho nên được gọi là Loa Thành.
Lãnh thổ Âu Lạc bao gồm phần đất của Văn Lang trước đây, và có sự mở rộng thêm vùng núi Đông Bắc Việt Nam ngày nay. 
Đến khi Triệu Đà đem quân đánh chiếm Âu Lạc, cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, quốc hiệu Âu Lạc cũng không còn.
VẠN XUÂN
Đến năm 544, Việt Nam bước vào một thời kỳ độc lập ngắn ngủi, một quốc hiệu mới cũng ra đời tại thời điểm này.  
Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 4, mặt khắc 14, 15 chép:  
Vua họ Lý, tên húy là Bí, người Thái Bình, phủ Long Hưng...
Vua có tài văn võ, trước làm quan với nhà Lương, gặp loạn, trở về Thái Bình. Bấy giờ bọn thú lệnh tàn bạo hà khắc, quân Lâm Ấp cướp phá ngoài biên, vua dấy binh đánh đuổi được, xưng là Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên.
Tên nước là Vạn Xuân có ý mong xã tắc lâu dài đến muôn đời. Vua còn cho dựng điện Vạn Xuân để làm chỗ triều hội. (Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục tiền biên, quyển 4, mặt khắc 2).
Nước Vạn Xuân tồn tại từ năm 544 đến năm 602 thì bị nhà Tùy xâm chiếm và đô hộ.
ĐẠI CỒ VIỆT
Năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng lịch sử, chính thức kết thúc hơn một thiên niên kỉ Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài cho dân tộc. Tuy nhiên thời điểm đó, đất nước chưa có quốc hiệu. 
Phải đến năm 968, khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân,  thống nhất giang sơn, ông mới đặt quốc hiệu đất nước là Đại Cồ Việt, đánh dấu sự ra đời của một quốc gia thống nhất, độc lập, một nhà nước phong kiến tập quyền, có tổ chức quân đội riêng.
Kinh đô đất nước đặt tại Hoa Lư. 
“Hoa Lư ở về sơn phận hai xã Uy Viễn và Uy Tế thuộc Ninh Bình. Nơi đây bốn mặt đều có núi đá đứng thẳng như bức vách, trong có một chỗ hơi bằng phẳng rộng rãi, người xứ ấy gọi là động Hoa Lư.” (Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục tiền biên, quyển 5, mặt khắc 24).
Suốt 86 năm sau đó, quốc hiệu Đại Cồ Việt được duy trì, với 8 đời vua, ở 3 triều đại kế tiếp là Đinh, Tiền Lê và Lý.
ĐẠI VIỆT
Bước sang triều đại nhà Lý, sau khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Đại La vào năm 1010, thì năm 1054, vua Lý Thánh Tông lên ngôi, đã cho đổi quốc hiệu đất nước thành Đại Việt. 
Có thể nói đây là quốc hiệu tồn tại lâu dài nhất của nước ta cho đến nay, trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, với khoảng 750 năm tồn tại. Tuy nhiên trong quãng thời gian đó, đã có những khoảng gián đoạn của lịch sử, quốc hiệu Đại Việt bị thay đổi trong 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh. ]]></description>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<enclosure url='http://disanso.vn/vidman/upload/videos/BqVVBspB0hw.jpg' length='' type='image/jpg' /><guid>http://disanso.vn/vidman/video/471/di-tim-quoc-hieu-trong-di-san-moc-ban-trieu-nguyen</guid>
</item>
<item>
<title>Tết trong hoàng cung dưới thời Nguyễn</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/video/470/tet-trong-hoang-cung-duoi-thoi-nguyen</link>
<description><![CDATA[ Thành phố Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ diện mạo của một kinh đô xưa. Tại Hoàng thành Huế, những ngày Tết nguyên đán, có những nghi thức từ triều Nguyễn vẫn được gìn giữ và tái hiện. Du khách tỏ ra khá hứng thú. Nhưng có lẽ nhiều người vẫn chưa đủ thỏa mãn về câu hỏi: Tết nguyên đán ngày xưa thực sự đã được các Vua Nguyễn tổ chức như thế nào?
Trải qua hơn hai thế kỉ với bao đổi thay của các thời đại, không dễ để tìm được những tư liệu về điều này. Nhưng có một nguồn hiếm hoi mà các nhân viên của Trung tâm lưu trữ quốc gia IV vẫn hàng ngày cặm cụi phục hồi và bảo tòn, đó là khối mộc bản đồ sộ của triều Nguyễn còn lại đến ngày nay. 
Trong khối mộc bản này, những thông tin về Tết nguyên đán từng được các vua ban hành được ghi chép rất cẩn thận và chi tiết. 
Theo đó, Tết nguyên đán dưới triều Nguyễn là một dịp lễ lớn, có thể nói là lớn nhất trong năm. Công tác chuẩn bị thậm chí bắt đầu từ cả tháng trước đó.
Ngay ngày 1 tháng 12, các vua đã cho tổ chức lế Ban sóc, phát lịch cho toàn bộ bách quan trong triều tại lầu Ngọ Môn. Người dân cũng làm lễ nhận lịch ở địa phương của mình. 
Cũng vào thời điểm này, các Vua sẽ cho ấn định thời gian nghỉ Tết.   (trích đoạn c nói: từ 28 đến ngày 8)
Ngày 28 tháng chạp đến ngày 8 tháng giêng cũng được chọn làm ngày nghỉ Tết Nguyên đán hàng năm dưới thời nhà Nguyễn. Sau khi công bố, triều đình sẽ cho trang hoàng khắp hoàng cung. Từ câu đối, cờ hoa, lồng đèn… Không khí Tết dậy lên bắt đầu từ những ngày đó.
- 20/12: Hạ tuần tháng Chạp, thường vào ngày 20/12, triều đình sẽ tổ chức lễ Phất thức hay còn gọi là lễ quét dọn. Tại điện Cần Chánh, có 6 chiếc tủ gỗ chứa các ấn vàng ấn ngọc của vương triều. Người ta sẽ đi lấy nước sông Hương ở ngã ba sông, chứa trong một cái bình đầy hoa thơm. Sau khi nhà vua ngự ra, các ấn này sẽ được các quan văn võ hàm nhất nhị phẩm trở lên rửa sạch và lau bằng khăn màu đỏ. Rửa xong ấn được cho vào tủ và khóa lại, bên ngoài niêm hai chữ “Hoàng phong”. Sau lễ này, vua và các quan nghỉ việc không dùng ấn nữa. Đến đầu năm mới, sau khi làm lễ “khai ấn”, các công việc mới được tiếp tục trở lại.
- 22/12: Sau đó 2 ngày, ngày 22/12 âm lịch, đích thân nhà vua sẽ đến Thái Miếu hoặc Thế Miếu làm chủ lễ Cáp hưởng, mời các vị tiên đế về cùng “ăn Tết”. Theo mộc bản sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 69, mặt khắc 5 thì những năm Sửu. Mão, Tỵ, Mùi, Hợi, hoàng đế sẽ đến Thái Miếu. Những năm Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thì đến Thế miếu. Cũng từ ngày này, vua sai các thân công, hoàng tử hoặc các quan đại thần thay mặt mình đi tế cúng ở các lăng tẩm, đền miếu, chùa quán ở kinh đô.
- 30/12: Ngày cuối cùng của năm cũ có lẽ là ngày được chào đón nhất. 
Sáng sớm hôm đó, hoàng tử, hoàng thân chia đến các miếu đứng chờ làm lễ “tuế trừ” tiễn biệt năm cũ. Việc tế tự phải làm vào lúc sáng sớm, mới bày tỏ được lòng cung kính. Trống canh năm, sau khi bắn súng, hữu ty bày đặt lễ phẩm, nghi trượng, nhã nhạc ở hai bên tả hữu trước sân miếu và bắt đầu làm lễ. 
Lễ xong, triều đình sẽ làm lễ để dựng cây nêu. 
Nghi lễ này đến nay vẫn còn được gìn giữ tại Huế. 
Dựng nêu là một nghi thức đặc biệt trước thềm năm mới, biểu tượng cho một năm mới sắp sang. Khi cây nêu của Vua được dựng lên trước điện Thái Hòa thì các dinh thự, chùa chiền và dân chúng mới được dựng lên theo. Nhà vua chỉ huy việc dựng nêu ở điện Thái Hòa, còn thân công, hoàng tử, đại thần lo việc dựng nêu ở các miếu điện, đền thờ tại kinh đô.
Tối đó, sau khi tổ chức xong lễ trừ tịch, bỏ hết những điều xấu của năm cũ để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp sang, toàn Kinh thành sẽ đốt pháo lên nêu.
Nhìn lại những nghi thức trước tết ngày nay, ta cũng nhìn thấy phần nào bóng dáng của những nghi thức dưới triều Nguyễn. Có lẽ đó là một sự tiếp nối và cội nguồn của những nghi lễ này.
- Thưởng tết: Tuy nhiên nhìn vào các nghi lễ trước Tết, có một điều không được nhắc tới, đó là chuyện thưởng tết. Thực tế, từ thời Nguyễn, các vua đã bắt đầu coi trọng chuyện thưởng tết để động viên quần thần. Nhưng việc ban thưởng này sẽ không diễn ra trước Tết mà được long trọng tổ chức vào đúng ngày đầu năm mới. Tùy thuộc vào điều kiện từng năm, các bậc đế vương sẽ quyết định cách thức và vật phẩm ban thưởng khác nhau. Theo mộc bản sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 242, việc thưởng Tết đã bắt đầu từ năm 1808, dưới thời Vua Gia Long. Tuy nhiên lúc đó do điều kiện đất nước còn khó khăn nên việc thưởng tết cho trăm quan không được nhắc đến nhiều. Đến triều vua Minh Mạng, vua ra lệnh cho lập danh sách những người xứng đáng được thưởng rồi trình lên vua xem xét. Vua sẽ ban yến tiệc và ban tiền thưởng xuân trong ngày mùng 1 Tết. 
Nối tiếp truyền thống của cha ông, vua Thiệu Trị cũng ban thưởng nhưng là thưởng chữ. Ngày đầu năm mới, sau yến tiệc, vua ngự ở điện Đông Các, cho triệu đình thần vào hầu, ban trà uống, rồi đưa cho xem bốn chữ “Trung, cần, phúc, thọ” do vua viết. Rồi hạ lệnh giao khắc in để ban cấp. ]]></description>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<enclosure url='http://disanso.vn/vidman/upload/videos/wL1EixNMV6M.jpg' length='' type='image/jpg' /><guid>http://disanso.vn/vidman/video/470/tet-trong-hoang-cung-duoi-thoi-nguyen</guid>
</item>
<item>
<title>Đi tìm ấn tích xưa: Phong Nha – Kẻ Bàng, dấu ấn từ quá khứ</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/video/469/di-tim-an-tich-xua-phong-nha-ke-bang-dau-an-tu-qua-khu</link>
<description><![CDATA[ Sông Gianh – ranh giới phân chia hai bờ Nam Bắc thời đất nước phân tranh, đã ghi dấu những thời khắc lịch sử trọng đại của dân tộc. Dòng sông kỳ vĩ chảy trên đất Quảng Bình đã được vua Minh Mạng cho khắc vào Cửu đỉnh đặt tại Thế Miếu. 
Bên bờ Nam dòng sông này có một dãy núi đá vôi hùng vĩ, không chỉ ghi những dấu ấn lịch sử mà còn là một kỳ quan được thiên nhiên ban tặng cho nơi này.
Giới thiệu chung
Quảng Bình là tỉnh miền trung có diện tích hẹp nhất tính theo chiều Đông Tây của dải đất hình chữ S. Một vùng đất khắc nghiệt với gió Lào và cát trắng. Nhưng thiên nhiên cũng bù đắp cho nơi này một kiệt tác của tạo hóa. Động Phong Nha - núi Kẻ Bàng, một dải kỳ quan nằm sâu trong lòng núi thuộc huyện Bố Trạch và huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Với hơn 300 hang động lớn nhỏ, hệ thống động Phong Nha đã được Hội nghiên cứu hang động Hoàng gia Anh (BCRA) đánh giá là hang động có giá trị hàng đầu thế giới với 4 điểm nhất: có các sông ngầm dài nhất, có cửa hang cao và rộng nhất, những bờ cát rộng và đẹp nhất, những thạch nhũ với những hình dạng quyến rũ, đẹp mắt nhất.
Phong Nha - Kẻ Bàng 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới vào các năm 2003 theo tiêu chí giá trị địa chất, địa mạo và năm 2015 theo tiêu chí sinh thái đa dạng sinh học. Cùng với vẻ đẹp thì câu chuyện về nguồn gốc, quá trình khám phá và gìn giữ Phong Nha - Kẻ Bàng của các bậc tiền nhân luôn là một giá trị cần khai phá.
Nguồn gốc và lịch sử khám phá hang động
Theo dòng lịch sử, người Việt đã biết đến Phong Nha Kẻ Bàng từ lâu. Nhưng do địa thế hiểm trở cùng với sự hạn chế về khả năng và kỹ thuật để khám phá hang động, nên phải đến thế kỷ XIX, sau những cuộc thám hiểm của người Pháp và người Anh, sự kỳ vĩ của hệ thống hang động mới dần được hé lộ.
Đầu tiên phải kể đến chuyến thám hiểm của Linh mục người Pháp Léopold Michel Cadière vào cuối thế kỷ XIX. Ông đã phát hiện ra trên các vách đá trong hang động có nhiều văn tự bằng ngôn ngữ Chăm Pa cổ và suy tôn Phong Nha là "Đông Dương đệ nhất động".
Năm 1924, nhà thám hiểm người Anh Barton sau khi khảo sát đã đánh giá rằng động Phong Nha có thể sánh ngang với các hang động nổi tiếng trên thế giới về vẻ đẹp, sự phức tạp về cấu tạo và quy mô của nó.
Đến năm 1935, một người dân địa phương đi hái mây đã tình cờ phát hiện ra một động khô nằm gần động Phong Nha. Động này cũng nằm trong khối núi đá vôi Kẻ Bàng nhưng lại không có sông ngầm và sau này được biết đến chính là động Tiên Sơn. 
Sang thập niên 90 của thế kỷ XX, những cuộc thám hiểm quy mô hơn cùng sự vào cuộc của rất nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế đã phát hiện thêm nhiều hang động mới, đem đến những hiểu biết toàn diện hơn về hệ thống hang động này.
Được coi trọng trong quá khứ
Trải qua thời gian, khi lật giở lại những tư liệu lịch sử trong khối Mộc bản triều Nguyễn đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, thực tế trong quá khứ, các bậc tiền nhân đã sớm nhận ra và hết sức coi trọng vẻ đẹp của Phong Nha.
Theo Mộc bản sáchĐại Nam nhất thống chí, Động Phong Nha được gọi là động Thầy Tiên. Động Thầy Tiên “ở cách huyện Bố Trạch 40 dặm về phía Tây, lại có tên là động Núi Thầy, lưng động dốc như vách, âm u sâu thẳm, trong động thạch nhũ rủ xuống, hoặc như cây hoa, hoặc như chuỗi ngọc, hoặc như tượng phật, hoặc như gấm vóc, phong cảnh thanh u, cửa động nhỏ hẹp, theo dòng nước đi vào khoảng hơn trăm trượng, thì địa thế mở rộng, có một đống cát trắng, trước kia có tượng đá như hình người tiên, người địa phương phụng thờ ở đây. Triều trước sắc phong làm thần Hiển linh, ban cấp cho đồ thờ, chép vào điển thờ, sau trải qua binh cách, bị bỏ đã lâu, đến năm Minh Mạng thứ 5, gia phong làm thần Ưng Diệu”.(Mộc bản sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 8, mặt khắc 36)
Sách Đồng Khánh địa dư chí, mục Danh thắng Quảng Bình thì chép:
Nói về cảnh thiên nhiên kỳ diệu thì có động Tiên Sư, suối đá trong xanh tịch mịch khiến cho người ta rất yêu thích… di tích ngàn thu chỉ còn lưu lại cái tên Tiên Sư (Thầy Tiên), Tiên Nữ, rốt cuộc thì cũng chẳng biết rõ thời đại họ tên thế nào.
Có thể thấy dưới thời phong kiến, Phong Nha – Kẻ Bàng đã được coi là một kì quan thiên thiên và một chốn linh thiêng.
Cái tên Phong Nha có lẽ cũng đã xuất phát từ lâu theo sự phát hiện này. 
Có người cho rằng tên gọi Phong Nha xuất phát từ hình ảnh những ngọn núi nằm thành từng dãy đều đặn như hình ảnh các quan đứng thành hàng trên sân chầu hay ở quan thự. Người ta đã lấy nghĩa khác trong chữ Hán: chữ Phong nghĩa là đỉnh núi, Nha có nghĩa là quan lại để đặt tên cho động Phong Nha.
Cũng có người giải thích nôm na rằng, chữ Phong trong tiếng Hán là Gió, chữ Nha là Răng. Khi vào trong có gió thổi và những nhũ đá rũ xuống tua tủa trong lòng hang nên gọi là “ Phong Nha”, nghĩa là gió luồn qua kẽ răng.
Theo sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn thì Phong Nha là tên một làng miền núi ngày xưa (nay là thôn Phong Nha, xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch). Điều này cũng giống trong ghi chép của sách Đồng Khánh địa dư chí. ]]></description>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<enclosure url='http://disanso.vn/vidman/upload/videos/ZZs075TdH-8.jpg' length='' type='image/jpg' /><guid>http://disanso.vn/vidman/video/469/di-tim-an-tich-xua-phong-nha-ke-bang-dau-an-tu-qua-khu</guid>
</item>
<item>
<title>Đi tìm ấn tích xưa: Dấu ấn Hải Vân quan qua Di sản Mộc bản Triều Nguyễn</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/video/468/di-tim-an-tich-xua-dau-an-hai-van-quan-qua-di-san-moc-ban-trieu-nguyen</link>
<description><![CDATA[ Trên con đường xuyên Việt qua dải đất miền Trung nắng gió, đèo Hải Vân là một thắng cảnh mà ai cũng muốn ít nhất một lần chinh phục. Đây là con đèo đầy hiểm trở, cao nhất trong các đèo dọc theo Quốc lộ 1 ở Việt Nam, và cũng là đỉnh núi cuối cùng của một mạch Trường Sơn đâm ngang ra biển. Từ quá khứ đến hiện tại, nó vẫn luôn là một trong những con đèo trọng yếu nhất của đất nước.
Nguồn gốc, tên gọi và vị trí chiến lược của Hải Vân
Đèo Hải Vân hay còn gọi đèo Mây, đèo Ải Vân, có chiều dài khoảng 20km, uốn lượn như dải lụa giữa không trung, dưới sát bờ biển, trên chọc từng mây, là ranh giới tự nhiên giữa các khu vực hành chính trong lịch sử, và ngày nay là ranh giới giữa tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng.
Trước đây, vùng đất này vốn thuộc về 2 châu Ô, Lý của vương quốc Chămpa, được vua Chămpa là Chế Mân dâng lên vua Trần Anh Tông làm sính lễ cầu hôn Công chúa Huyền Trân vào năm 1306. Không rõ thời còn thuộc vương quốc Chăm-pa, núi Hải Vân mang tên gì và từ sau ngày về với Đại Việt tên Hải Vân do ai đặt thì chưa tìm thấy tài liệu nào khẳng định. Chỉ biết năm Hưng Long thứ 15 (1307), vua Trần Anh Tông cho đổi Châu Ô, Châu Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu. Theo đó, vùng đất từ Thừa Thiên cho đến huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam ngày nay) là thuộc Châu Hóa. Và cũng từ đó, đèo Hải Vân đã chính thức trở thành một địa danh của quốc gia Đại Việt. Đó cũng là khi bắt đầu một hành trình đầy đổi thay của con đèo này. Trên đèo, người ta vẫn còn thấy rất nhiều di tích của một thời quá vãng. Đó chính là dấu ấn của một vị trí chiến lược từng rất quan trọng trong lịch sử.  Một trường lũy quân sự được xây dựng một cách kiên cố và hệ thống.
Hải Vân quan – trường lũy quân sự quan trọng
Thời kỳ đất nước phân tranh, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong tích cực mở mang bờ cõi về phía Nam. Thấy xứ Quảng Nam đất tốt, dân đông, sản vật giàu có, nên thường để ý đến vùng đất này. 
Mộc bản sách Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 1, mặt khắc 21 có chép: Năm Nhâm Dần (1602), chúa Tiên Nguyễn Hoàng “Đến đây, đi chơi núi Hải Vân, thấy một dải núi cao dăng dài mấy trăm dặm nằm ngang đến bờ biển. Chúa khen rằng: “Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng”, liền vượt qua núi xem xét hình thể dựng trấn dinh, xây kho tàng chứa lương thực, sai Hoàng tử thứ 6 đến trấn giữ.
Năm 1802, chúa Nguyễn Ánh lập ra triều Nguyễn lấy niên hiệu là Gia Long, Hải Vân lại trở thành một vị trí có ý nghĩa chiến lược về mặt quân sự, là tường thành bảo vệ kinh đô Huế. Vua Gia Long cho người tới Hải Vân khai thác tài nguyên, tuyển mộ dân phu sửa sang lại đường xá, cắt cử quan trấn thủ trên Hải Vân quan và các cửa biển.
Để kiểm soát việc ra vào Kinh đô về hướng Nam, các vị Hoàng đế đều chăm lo phòng bị cho nơi này. Cửa hùng quan được xây dựng kiên cố, chắc chắn hơn còn trang bị đầy đủ các loại vũ khí.
Ngay trên đỉnh dèo, dấu vết tiền nhân vẫn còn để lại. Đó là những cửa đèo và thành lũy đắp ngang được xây từ đời Trần và được trùng tu vào thời Nguyễn. Cửa trông về phủ Thừa Thiên được vua Minh Mạng cho khắc ba chữ “Hải Vân quan” vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826), cửa trông xuống Quảng Nam đề “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” (có nghĩa là cửa ải hùng mạnh nhất thiên hạ).
Coi đây là vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh và quốc phòng, vua Minh Mạng đã phái biền binh gồm 4 đội Hữu sai và 2 đội Ứng sai chở súng ống đến trấn giữ. “Súng quá sơn bằng đồng 5 cỗ, ống phun lửa 200 ống, pháo thăng thiên 100 cây và thuốc đạn theo súng”. Có thể thấy, vua Minh Mạng hiểu rất rõ vị trí “yết hầu” trong việc quan phòng vệ quốc ở nơi này. Tuy nhiên, Đèo Hải Vân nằm ở độ cao 500m so với mực nước biển, cheo leo, hiểm trở. Trên đỉnh đèo, quanh năm mây phủ. Dưới chân đèo là vực thẳm biển sâu nên trong nhiều thế kỷ, đường Cái Quan (nay là Quốc lộ 1A) băng qua đèo Hải Vân rất ít người dám qua lại. Dân gian có câu: “Đi bộ thì sợ Hải Vân, đi thủy thì sợ sóng thần hang Dơi”. 
Núi Hang Dơi cửa biển Hải Vân là nơi đã gây ra nhiều tai họa nguy hiểm cho thuyền bè đi lại. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 66 còn ghi chép về việc hai thuyền hiệu là An Ba và Tĩnh Lãng chở của kho ở Bắc Thành, bị bão làm chìm ở dương phận núi Hang Dơi cửa biển này. ]]></description>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<enclosure url='http://disanso.vn/vidman/upload/videos/kLPfRhB1TDg.jpg' length='' type='image/jpg' /><guid>http://disanso.vn/vidman/video/468/di-tim-an-tich-xua-dau-an-hai-van-quan-qua-di-san-moc-ban-trieu-nguyen</guid>
</item>
<item>
<title>Đà Lạt – Những câu chuyện chưa kể: Dalat nguồn cảm hứng bất tận</title>
<link>http://disanso.vn/vidman/video/467/da-lat-nhung-cau-chuyen-chua-ke-dalat-nguon-cam-hung-bat-tan</link>
<description><![CDATA[ Giới thiệu về Đà Lạt: Vào cuối thế kỷ 19, người Pháp đã bị mê hoặc ngay từ khi khám phá ra cao nguyên Lang Bian. Họ thậm chí nhanh chóng quyết định xây dựng cả một thành phố nơi đây bất chấp những khó khăn chồng chất về mọi mặt. Và cuối cùng, một thành phố xinh đẹp giữa miền sơn cước đã xuất hiện và trở thành nơi hòa quện giữa ký ức Pháp với nét trẻ trung, tươi mới của xứ sở nhiệt đới.
Đô thị Đà Lạt do người Pháp quy hoạch
a) Sau khi thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và quyết định xây dựng Trạm nghỉ dưỡng trên cao nguyên Lâm viên, Toàn quyền Paul Doumer và người kế nhiệm Jean Beau đã cho tiến hành rất nhiều nghiên cứu, khảo nghiệm để chuẩn bị cho việc xây dựng một thành phố từ con số không tại nơi rừng rú, cách xa tất cả các thành phố lớn và trục đường giao thông quan trọng.
b) Tiếp đó, chính quyền thuộc địa đã từng bước tiến hành lập quy hoạch xây dựng và phát triển thành phố một cách bài bản, khoa học với tham vọng biến nơi đây thành địa điểm mang sắc thái “quê nhà” của các viên quan cai trị người Âu cùng đoàn binh lính viễn chinh Pháp.
c) Năm 1898, chính quyền thực dân đã cấp tốc cho xây dựng tuyến đường bộ đầu tiên lên Đà Lạt từ Phan Rang. Cùng lúc đó, người Pháp cũng bắt đầu nghiên cứu xây dựng tuyến đường sắt và bắt đầu khởi công vào năm 1906.
d) Lúc này, viễn cảnh về một thành phố phồn hoa trong tương lai gần đã làm cho các quan chức phải tính đến những biện pháp quản lý hành chính cho một đô thị sầm uất.
e) Tuy nhiên sau đó là một chuỗi ngày dài thất vọng khi Đồ án quy hoạch đầu tiên của Paul Champoudry - Thị trưởng đầu tiên của Đà Lạt đã bị thất bại và thành phố lay lắt tồn tại ảm đạm như chính màn sương mù thường xuyên bao trùm phố núi. 
f) Và thành phố chỉ thực sự hồi sinh khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ và Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut quyết định biến nơi đây thành nơi nghỉ mát trên cao số 1 của Đông Dương.
g) Đồ án quy hoạch thành phố lại được lấy ra từ kho lưu trữ và giao cho O’neil chỉnh sửa, phát triển và đệ trình Toàn quyền Đông Dương vào năm 1919.
h) Cùng năm đó, người ta đào một hồ nước nhân tạo ngay giữa trung tâm thành phố đồng thời xây một con đập ngăn nước tại đây. 
i) Năm 1923, trong Đồ án quy hoạch của mình, kiến trúc sư Ernest Hébrard đề nghị mở rộng việc xây dựng hồ nước tại Trung tâm Đà Lạt. Ngoài ra, ông còn vẽ lên một đô thị sầm uất, hiện đại với rất nhiều phân khu với chức năng khác nhau. Đà Lạt trong viễn tưởng của Hébrard là một thủ phủ liên bang với 300.000 dân trong khi dân số Đà Lạt lúc đó chỉ khoảng 1.500 người.
k) Mười năm sau, năm 1933, kiến trúc sư Pineau đã đưa ra một đồ án mới chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt. Ông đề nghị mở rộng hơn nữa các hồ nước và công viên, đồng thời thiết lập các khu vực xây dựng phù hợp với cảnh quan và khí hậu địa phương. Đồ án của ông có tính thực tiễn cao trong việc quy hoạch đô thị Đà Lạt. Và sau đó, Đà Lạt đã phát triển du lịch rất mạnh, đặc biệt là với tuyến đường sắt răng cưa.
l) Đến năm 1942, Đà Lạt là một thành phố xinh đẹp, là nơi nghỉ mát lý tưởng của người Pháp ở Đông Dương. Tuy nhiên, Đà Lạt đã phát triển quá mức nên Toàn quyền Đông Dương Decoux giao cho kiến trúc sư Lagisquet dựa theo đồ án cũ của Pineau thiết lập đồ án chỉnh trang phát triển Đà Lạt mới. Đồ án của ông chú trọng đến việc mở rộng và làm đẹp thành phố ở những khu vực phát triển nông nghiệp như xây dựng các khu biệt thự ngoại ô với mô hình “thành phố-vườn theo ý tưởng của Toàn quyền đông Dương Decoux.
Đà Lạt - Nguồn cảm hứng bất tận
Từ công cuộc quy hoạch và xây dựng đô thị của người Pháp đã hình thành nên Hồ Xuân Hương. Đến nay, hồ nước nhân tạo này đã trở thành một trong những biểu tượng của thành phố Đà Lạt. Xung quanh hồ, những rặng thông hay dãy núi mờ xa lặng yên soi bóng đã tạo nên một vẻ đẹp mộng mơ, yên bình hiếm thấy của một đô thị.
Một Đà Lạt ẩn hiện trong làn sương huyền ảo, một thành phố yên bình trong ánh nắng chiều vàng tươi đã làm say lòng bao lữ khách dừng chân chốn này.
Dạo bước trên những đường dốc quanh co ngắm cảnh thiên nhiên Đà Lạt như một bức tranh, ngồi nhâm nhi ly cà phê với những phút đam mê đã khơi nguồn cảm hứng cho những tâm hồn nghệ sĩ. 
Với những ưu đãi từ thiên nhiên, Đà Lạt là một trong những địa điểm hiếm có trên thế giới quanh năm được tô điểm bởi muôn sắc hoa khiến cho du khách khắp nơi mong một lần đến Đà Lạt để tự thưởng cho mình những tấm ảnh đẹp với khoảnh khắc thật lãng mạn nơi đây. Đà Lạt đẹp yêu kiều đến thế khiến người đến không nỡ rời đi và khi ra về mà khúc hát vẫn ngân xa “chào Đà Lạt thành phố tình yêu, chào Đà Lạt thành phố của ngàn hoa”. ]]></description>
<pubDate>Mon, 20 Apr 2026 00:53:14 GMT</pubDate>
<enclosure url='http://disanso.vn/vidman/upload/videos/bOhXhU7OJK8.jpg' length='' type='image/jpg' /><guid>http://disanso.vn/vidman/video/467/da-lat-nhung-cau-chuyen-chua-ke-dalat-nguon-cam-hung-bat-tan</guid>
</item>
</channel>
</rss>